TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của dịch trùn quế (Perionyx excavatus) bổ sung vào khẩu phần lên sinh trưởng, sinh sản và hiệu quả kinh tế của gà Đông Tảo nuôi tại Phù Cát, Bình Định. Thí nghiệm sử dụng 125 gà 1 ngày tuổi, được chia ngẫu nhiên thành 5 lô (1 đối chứng - ĐC và 4 thí nghiệm - TN) với các mức bổ sung dịch trùn quế khác nhau (3ml hoặc 5ml/100g thức ăn) qua hai giai đoạn (5-9 và 10-22 tuần tuổi). Kết quả sau 22 tuần cho thấy, các lô bổ sung dịch trùn quế đều cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu. Lô TN4 (bổ sung 5ml cho cả hai giai đoạn) đạt kết quả tối ưu: khối lượng cuối cùng cao nhất (3147,7 g/con), tỷ lệ sống cao nhất (88%), thành thục sinh dục sớm nhất (154 ngày), năng suất trứng/8 tuần đầu cao nhất (15,5 quả/mái) và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp nhất (4,45). Lợi nhuận từ các lô TN cao hơn từ 2,8 đến 3,5 lần so với lô ĐC. Nghiên cứu kết luận việc bổ sung dịch trùn quế, đặc biệt là công thức 5ml/100g TAHH cho cả hai giai đoạn (TN4), mang lại hiệu quả toàn diện, góp phần phát triển bền vững giống gà Đông Tảo tại địa phương.
Từ khóa: Dịch trùn quế; Gà Đông Tảo; Sinh trưởng; Sinh sản; Hiệu quả kinh tế; Phù Cát.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gà Đông Tảo (Gallus gallus domesticus) là giống gà bản địa quý hiếm của Việt Nam, có giá trị kinh tế cao nhờ chất lượng thịt thơm ngon và đặc điểm ngoại hình độc đáo. Tuy nhiên, giống gà này có nhược điểm là tăng trưởng chậm, năng suất sinh sản thấp và đang đối mặt với nguy cơ thoái hóa giống. Trong bối cảnh phát triển chăn nuôi bền vững, việc tìm kiếm các nguồn thức ăn tự nhiên, giàu dinh dưỡng để thay thế một phần thức ăn công nghiệp là rất cần thiết nhằm giảm chi phí, nâng cao sức khỏe vật nuôi và chất lượng sản phẩm.
Trùn quế (Perionyx excavatus) được biết đến là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, giàu acid amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của trùn quế trong khẩu phần gia cầm, giúp cải thiện tăng trưởng và nâng cao năng suất trứng. Tại Bình Định, chăn nuôi gà theo hướng hàng hóa đang phát triển mạnh, tuy nhiên các nghiên cứu về ứng dụng trùn quế cho giống gà bản địa quý như gà Đông Tảo trong điều kiện sinh thái của tỉnh còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện ảnh hưởng của dịch trùn quế với các mức bổ sung khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản, khả năng kháng bệnh và hiệu quả kinh tế của gà Đông Tảo nuôi tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 125 gà Đông Tảo 1 ngày tuổi Nguyên liệu bổ sung: Dịch trùn quế (Perionyx excavatus) Thức ăn: Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TAHH)
2.1.Vật liệu
a) Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức: Lô đối chứng (ĐC): Khẩu phần cơ bản:
Lô TN1: Khẩu phần cơ bản + 3ml dịch trùn quế/100g TAHH (giai đoạn 5-9 tuần) và 3ml/100g TAHH (giai đoạn 10-22 tuần)
Lô TN2: Khẩu phần cơ bản + 5ml dịch trùn quế/100g TAHH (giai đoạn 5-9 tuần) và 3ml/100g TAHH (giai đoạn 10-22 tuần)
Lô TN3: Khẩu phần cơ bản + 3ml dịch trùn quế/100g TAHH (giai đoạn 5-9 tuần) và 5ml/100g TAHH (giai đoạn 10-22 tuần)
Lô TN4: Khẩu phần cơ bản + 5ml dịch trùn quế/100g TAHH (giai đoạn 5-9 tuần) và 5ml/100g TAHH (giai đoạn 10-22 tuần)
b) Theo dõi chỉ tiêu
Sinh trưởng: Khối lượng cơ thể, các chiều đo cơ thể Sức khỏe: Tỷ lệ sống, tỷ lệ mắc bệnh
Sinh sản: Tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng Hiệu quả sử dụng thức ăn: FCR
Hiệu quả kinh tế: Chi phí, doanh thu, lợi nhuận
c) Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2019 và phân tích phương sai (ANOVA) trên Minitab 18.0.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tỷ lệ sống và tình hình sức khỏe
Bảng 1. Tỷ lệ sống của gà Đông Tảo theo các giai đoạn tuổi

Kết quả cho thấy tỷ lệ sống ở các lô bổ sung dịch trùn quế đều cao hơn so với lô đối chứng. Lô TN4 đạt tỷ lệ sống cao nhất (88%), trong khi lô ĐC chỉ đạt 80%. Sự khác biệt này chủ yếu xảy ra ở giai đoạn sau 16 tuần tuổi.Về sức khỏe, các lô TN có tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa và hô hấp thấp hơn đáng kể so với lô ĐC. Điều này có thể do các peptide kháng khuẩn và hợp chất tăng cường miễn dịch trong dịch trùn quế đã giúp nâng cao sức đề kháng của đàn gà.
3.2 Khả năng sinh trưởng
Bảng 2. Khối lượng cơ thể (g) của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

Khối lượng cơ thể tăng dần theo tuần tuổi ở tất cả các lô. Từ tuần thứ 6 trở đi, các lô TN luôn có khối lượng cao hơn hẳn so với lô ĐC. Đến 22 tuần tuổi, khối lượng trung bình của lô TN4 đạt 3147,7 g, cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với lô ĐC (2594,0 g).Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (ADG) trung bình cả giai đoạn 4-22 tuần của các lô TN dao động từ 19,85-21,61 g/ngày, cao hơn so với lô ĐC (17,66 g/ngày). Tốc độ sinh trưởng tương đối (RGR) cao nhất ở giai đoạn đầu và giảm dần theo thời gian.
Về các chiều đo cơ thể, ở thời điểm 22 tuần, tất cả các chỉ số (chiều dài thân, lườn, vòng ngực, chiều dài và đường kính chân) ở các lô TN đều cao hơn so với lô ĐC. Đặc biệt, đường kính chân - đặc điểm nổi bật của gà Đông Tảo - ở lô TN4 (28,42 mm) lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với lô ĐC (26,68 mm).
3.3 Khả năng sinh sản
Kết quả theo dõi khả năng sinh sản được trình bày chi tiết tại Bảng 3. Nhìn chung, tất cả các lô được bổ sung dịch trùn quế đều thể hiện ưu thế về thời gian thành thục sinh dục và năng suất trứng so với lô ĐC. Trong đó, lô TN4 (bổ sung 5ml/100g TAHH cho cả hai giai đoạn) cho thấy kết quả vượt trội nhất một cách rõ rệt.
Bảng 3. Tuổi thành thục sinh dục và năng suất trứng của gà Đông Tảo

Cụ thể, gà mái ở lô TN4 thành thục sinh dục sớm nhất, với tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và đạt tỷ lệ đẻ 5% là 154 ngày tuổi, sớm hơn 18 ngày so với lô ĐC (172 ngày). Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 50% của lô TN4 là 166 ngày, sớm hơn 17 ngày so với lô ĐC (183 ngày). Điều này cho thấy việc bổ sung dịch trùn quế với liều lượng cao và ổn định (TN4) đã rút ngắn đáng kể thời gian thành thục của đàn gà.
Về năng suất trứng, lô TN4 cũng đạt kết quả cao nhất với 15,50 quả/mái trong 8 tuần đẻ đầu, cao hơn lô ĐC 2,44 quả/mái và cao hơn các lô thí nghiệm còn lại. Kết quả này một lần nữa khẳng định hiệu quả tích cực của việc bổ sung dịch trùn quế, đặc biệt ở công thức TN4, lên hiệu suất sinh sản của gà Đông Tảo, thông qua việc cung cấp nguồn dinh dưỡng cân đối và dồi dào, tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của buồng trứng và chất lượng trứng.
3.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) chung cả giai đoạn 4-22 tuần của các lô TN (4,45-4,60) tốt hơn so với lô ĐC (5,47). Lô TN4 có FCR thấp nhất (4,45), cho thấy việc bổ sung dịch trùn quế giúp gà sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.
Về hiệu quả kinh tế, mặc dù phát sinh thêm chi phí mua dịch trùn quế, nhưng do gà các lô TN có khối lượng xuất chuồng cao hơn và tỷ lệ sống tốt hơn, tổng thu từ các lô TN cao hơn nhiều so với lô ĐC. Lợi nhuận thu được từ các lô TN cao hơn từ 2,8 đến 3,5 lần so với lô ĐC, trong đó lô TN4 đạt lợi nhuận cao nhất.
4. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu khẳng định việc bổ sung dịch trùn quế vào khẩu phần có ảnh hưởng tích cực và toàn diện đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi gà Đông Tảo tại Phù Cát, Bình Định.
Cụ thể, dịch trùn quế không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ sống, cải thiện sức khỏe đàn gà mà còn thúc đẩy sinh trưởng mạnh mẽ, thể hiện qua khối lượng cơ thể và các chiều đo (đặc biệt là đường kính chân) đều vượt trội so với lô đối chứng.
Đồng thời, khả năng sinh sản được cải thiện rõ rệt thông qua việc rút ngắn thời gian thành thục sinh dục và tăng năng suất trứng. Nhờ những lợi ích vượt trội này, hiệu quả sử dụng thức ăn được tối ưu và lợi nhuận kinh tế thu được từ các lô thí nghiệm cao hơn từ 2,8 đến 3,5 lần. Trong số các công thức thử nghiệm, công thức bổ sung 5 ml dịch trùn quế/100g thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho cả hai giai đoạn (5-9 tuần và 10-22 tuần) được đánh giá là mang lại kết quả tốt nhất, có thể được khuyến cáo áp dụng vào thực tiễn để phát triển bền vững giống gà quý Đông Tảo tại địa phương.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Wikipedia (2022). Chăn nuôi gia cầm. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Truy cập ngày 01/01/2024, từ https://vi.wikipedia.org/wiki/Chăn_nuôi_gia_cầm
[2] Thái Trần Bái (1979). Động vật không xương sống. NXB Giáo dục.
[3] Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Định (2016). “Báo Cáo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 1/10/2016”, Số 682/BC-CTK.
[5] (2008). Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm. NXB Khoa học và Kỹ thuật.
[6] Nguyễn Văn Duy (2013). Khả năng sinh sản của gà Hồ nuôi trong nông hộ tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
[7] Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Hồ Xuân Tùng, Vũ Chí Thiện (2006). Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Ai Cập và gà Ri vàng rơm trong điều kiện nuôi bán chăn thả. Báo cáo khoa học năm 2005 phần Nghiên cứu giống vật nuôi. Viện Chăn nuôi.
[8] (2023). Đặc điểm sinh lý học của Giun Quế. Trại Giun Quế PHT. Truy cập ngày 01/01/2024, từ http://traigiunquepht.com/home/